Đánh giá hiện trạng công nghệ xử lý chất thải nguy hại tại Việt Nam (07-01-2011 11:52)

Nguyễn Thành Yên, Nguyễn Thượng Hiền,
Đỗ Tiến Đoàn, Phan Thanh Giang, Lê Ngọc Lâm

Cục Quản lý chất thải và Cải thiện Môi trường, Tổng cục Môi trường

Tóm tắt: Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề mới mẻ, tuy đã được quan tâm chú trọng nhiều nhưng vẫn còn rất nhiều các vấn đề còn đang bức xúc, trong đó có khía cạnh công nghệ xử lý. Nghiên cứu này đưa ra đánh giá tổng quan về hiện trạng công nghệ xử lý CTNH ở Việt Nam, tập trung vào các công nghệ đã được Tổng cục Môi trường cấp phép cũng như giới thiệu xu hướng áp dụng công nghệ xử lý CTNH trong thời gian tới.

Từ khoá: ắc quy chì thải, bóng đèn thải, chất thải điện tử, chất thải nguy hại, chôn lấp, công nghệ xử lý, CTNH, dầu thải, đồng xử lý, lò đốt, lò xi măng, tái chế, xử lý chất thải nguy hại.

 

ASSESSING CURRENT SITUATION OF HAZARDOUS WASTE TREATMENT TECHNOLOGIES IN VIETNAM

Nguyen Thanh Yen, Nguyen Thuong Hien,
Do Tien Doan, Phan Thanh Giang, Le Ngoc Lam

Waste Management and Environment Promotion Agency, Vietnam Environment Administration

Summary: Hazardous waste (HW) management is a very urgent issue with the non-stop increasing generation, including the aspect of treatment technology. This research is to give the overall assessment on current situation of HW treatment technologies in Vietnam, focusing on which have been permitted by Vietnam Environment Administration, as well as the introduction of the trend for technology application in the coming time.

Keywords: cement kiln, co-processing, e-waste, hazardous waste, hazardous waste treatment, HW, incinerator, landfill, recycling, treatment technology, waste oil, waste lamp, waste lead battery.

1. Đặt vấn đề

Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề tương đối mới mẻ và đang khá bức xúc trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay. Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ của nước ta, lượng chất thải cũng liên tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn đối với công tác bảo vệ môi trường. Theo kết quả nghiên cứu năm 2004 [1], tổng lượng CTNH phát thải của Việt Nam trong năm 2003 vào khoảng 160 ngàn tấn và dự báo tăng lên khoảng 500 ngàn tấn vào năm 2010. Tuy nhiên, theo báo cáo của 35/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2009, số lượng CTNH phát sinh từ các địa phương này đã vào khoảng gần 700 ngàn tấn [2]. Riêng số lượng CTNH được thu gom, vận chuyển, xử lý bởi các đơn vị hành nghề quản lý CTNH liên tỉnh do Tổng cục Môi trường cấp phép trong năm 2009 là hơn 100 tấn, chỉ đáp ứng được một phần nhỏ tổng lượng phát sinh [3]. Lượng phát thải CTNH lớn như vậy, nếu không được quản lý chặt chẽ và xử lý an toàn như những năm trước đây, là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hơn nữa, sự phát sinh CTNH ở Việt Nam rất đa dạng về nguồn cũng như chủng loại trong khi công tác phân loại tại nguồn còn kém càng dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý và xử lý [3, 7].

Trước sự gia tăng nhanh chóng của CTNH, công tác quản lý, xử lý hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường. Thực tế cho thấy, việc quản lý và xử lý chất thải không an toàn, đặc biệt là các loại CTNH, đã để lại những hậu quả nặng nề về môi trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng như các điểm tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, các bãi rác không hợp vệ sinh, các bãi đổ chất thải của các nhà máy sản xuất...Vì vậy, quản lý và xử lý an toàn chất thải, đặc biệt là CTNH nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường và hạn chế các tác động xấu tới sức khỏe con người là một trong những vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Bên cạnh đó, sau một giai đoạn phát triển kinh tế nhanh và tiêu thụ rất nhiều tài nguyên, tái chế chất thải và thu hồi tài nguyên từ chất thải đã trở thành một xu thế tất yếu. Để thực hiện tái chế CTNH, cần phải có các công nghệ hợp lý.         

Để góp phần vào công tác quản lý, xử lý CTNH, cần có cái nhìn tổng quát về hiện trạng công nghệ xử lý CTNH (kể cả tái chế) đang được sử dụng ở Việt Nam, tập trung vào các cơ sở xử lý CTNH liên tỉnh do Tổng cục Môi trường cấp phép và xu hướng phát triển công nghệ trong thời gian tới.

2. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Phương pháp khảo sát hiện trường: khảo sát thực tế tại các cơ sở xử lý chất thải nguy hại do Tổng cục Môi trường cấp phép tại giai đoạn xem xét cấp phép hành nghề quản lý CTNH hoặc thanh tra, kiểm tra định kỳ hàng năm.

2.2. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các hồ sơ đăng ký hành nghề của các cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép và các tài liệu có liên quan.

2.3. Phương pháp chuyên gia: trao đổi, tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong quá trình xem xét cấp phép hành nghề quản lý CTNH và trong các vấn đề cụ thể.

2.4. Phương pháp thống kê: áp dụng trong việc thống kê các số liệu khảo sát và thu thập được.

2.5. Phương pháp phân tích: phân tích và đánh giá công nghệ dựa trên các số liệu khảo sát thực tế.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Hiện trạng một số công nghệ xử lý CTNH điển hình ở Việt Nam [3, 4]

Tính tới tháng 10/2010, Tổng cục Môi trường đã cấp phép hành nghề xử lý, tiêu huỷ CTNH liên tỉnh cho 36 cơ sở. Chưa kể, còn có các cơ sở do các Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố cấp phép. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này không đề cập đến các cơ sở do địa phương cấp phép này do tính không phổ biến và đại diện. Các công nghệ điển hình và phổ biến hiện nay được tóm tắt trong bảng 1 dưới đây.

Bảng 1. Một số công nghệ xử lý CTNH phổ biến ở Việt Nam

TT

Tên công nghệ

Số cơ sở áp dụng

Số mô đun hệ thống

Công suất phổ biến

1

Lò đốt tĩnh hai cấp

21

24

50 - 1000 kg/h

2

Đồng xử lý trong lò nung xi măng

2

2

30 tấn /h

3

Chôn lấp

2

3

15.000 m3

4

Hóa rắn (bê tông hóa)

17

17

1 – 5 m3/h

5

Xử lý, tái chế dầu thải

13

14

3-20 tấn/ngày

6

Xử lý bóng đèn thải

8

8

0,2 tấn/ngày

7

Xử lý chất thải điện tử

4

4

0,3 – 5 tấn/ngày

8

Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải

6

6

0,5 – 200 tấn/ngày

3.1.1. Lò đốt tĩnh hai cấp

Đây là loại công nghệ phổ biến được sử dụng nhiều ở Việt Nam với tổng số 24 lò đốt, chiếm 21/36 số cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép. Công suất của các lò đốt dao động từ 50-1000 kg/h, giá thành từ vài trăm triệu đến khoảng chục tỷ đồng tuỳ theo công suất và cấu trúc công nghệ.

Các lò đốt này đều sử dụng quy trình công nghệ dạng buồng đốt tĩnh theo mẻ và thiêu đốt hai cấp. Lò thường cấu tạo 2 buồng đốt gồm: buồng đốt sơ cấp để đốt cháy các chất thải cần tiêu hủy hoặc hóa hơi chất độc ở nhiệt độ 400-800oC; buồng đốt thứ cấp để tiếp tục đốt cháy hơi khí độc phát sinh từ buồng đốt sơ cấp ở nhiệt độ trên 1100oC. Một số lò có bổ sung thêm buồng đốt bổ sung sau buồng đốt thứ cấp để tăng cường hiệu quả đốt các khí độc. Đa số các lò không có biện pháp lấy tro trong quá trình đốt. Các lò đốt đều trang bị hệ thống xử lý khí thải bao gồm trao đổi nhiệt (hạ nhiệt bằng không khí hoặc nước); hấp thụ (phun sương hoặc sục dung dịch kiềm) và có thể có hấp phụ (than hoạt tính).­

Ưu điểm của công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp là công nghệ đơn giản, sẵn có (nhập khẩu hoặc chế tạo trong nước), chi phí đầu tư hợp lý, dễ vận hành phù hợp điều kiện Việt Nam. Lò đốt cũng là công nghệ chủ lực trong các cơ sở xử lý CTNH do có dải CTNH xử lý rộng (bao gồm cả chất thải y tế).­ Kể cả các lò đốt nhập từ nước ngoài về cũng phải cải tiến để đáp ứng việc đốt đa dạng CTNH do các lò nước ngoài thường được thiết kế để chuyên đốt một số loại CTNH nhất định.

Tuy nhiên, việc đốt theo mẻ dẫn đến công suất không cao do mất thời gian khi khởi động và dừng lò, hoặc khi tro đã đầy phải lấy ra đối với các lò không lấy tro giữa quá trình đốt. Quy trình kiểm soát, vận hành còn thủ công hoặc chưa tự động hoá cao nên khó có thể đốt các CTNH đặc biệt độc hại như các chất có chứa halogen (ví dụ PCB, thuốc bảo vệ thực vật cơ clo). Bên cạnh đó, lò đốt tĩnh thường không đốt được hoặc đốt không hiệu quả đối với các loại chất thải khó cháy và có độ kết dính cao như bùn thải. Nhiều lò đốt, đặc biệt các lò giá rẻ thường hay bị trục trặc hệ thống béc đốt hoặc hệ thống xử lý khí thải (như bị thủng ống khói do hơi axit).

Để khắc phục, các lò đốt cần được nghiên cứu nâng cấp một số đặc điểm như bổ sung biện pháp lấy tro trong quá trình đốt để kéo dài thời gian vận hành, lắp hệ thống quan trắc tự động liên tục, tăng cường tự động hoá hệ thống nạp CTNH và điều khiển.

Hình 1. Hệ thống xử lý khí thải lò đốt CTNH

3.1.2. Đồng xử lý trong lò nung xi măng

Công nghệ này mới được sử dụng bởi hai cơ sở sản xuất xi măng tại Kiên Giang và Hải Dương.

Do đặc thù của công nghệ sản xuất xi măng lò quay, có thể sử dụng CTNH làm nguyên liệu, nhiên liệu bổ sung cho quá trình sản xuất xi măng, chất thải được tiêu huỷ đồng thời trong lò nung xi măng ở nhiệt độ cao (trên 1300oC). Lò nung clinke có hình trụ quay quanh trục để đảo trộn các vật liệu khi nung. Do quá trình nung xi măng thường phát sinh nhiều khí độc và bụi nên các nhà máy sản xuất xi măng thường đầu tư hệ thống xử lý khí thải hiện đại. Hệ thống xử lý khí thải nhà máy xi măng bao gồm các công đoạn như: lọc bụi thô bằng xyclon, sau đó lọc bụi tinh bằng tĩnh điện hoặc túi vải, sau đó sử dụng phương pháp hấp thụ các khí độc bằng dung dịch kiềm dưới dạng phun sương.

Đồng xử lý CTNH trong lò nung xi măng có nhiều ưu điểm lớn như môi trường hoạt động ở nhiệt độ cao nên hiệu suất tiêu huỷ cao, xử lý được nhiều loại CTNH với khối lượng lớn, kể cả các chất thải có chứa halogen. Đặc biệt là hiệu quả kinh tế rất lớn do tiết kiệm nguyên, nhiên liệu vì các loại CTNH dễ cháy góp phần cung cấp nhiệt lượng và một số loại CTNH có thành phần phù hợp với nguyên liệu sản xuất xi măng. Bên cạnh đó, đồng xử lý tận dụng hệ thống sản xuất xi măng sẵn có nên tiết kiệm được chi phí đầu tư về cơ sở hạ tầng.

Tuy nhiên, đồng xử lý CTNH trong lò nung xi măng đòi hỏi công nghệ sản xuất xi măng hiện đại là lò quay khô, có tiền nung, cần nghiên cứu kỹ quá trình nạp chất thải vào lò để không ảnh hưởng đến quá trình sản xuất xi măng cũng như đảm bảo hiệu quả xử lý CTNH. Ngoài ra, một lý do mà các nhà máy xi măng ở Việt Nam chưa mặn mà với việc đồng xử lý là vì nỗi lo ảnh hưởng đến vấn đề thị trường như định kiến của khách hàng về chất lượng sản phẩm xi măng hoặc việc nghiên cứu triển khai đồng xử lý gây xao lãng trong cuộc đua giành thị phần xi măng. Bên cạnh đó, việc đồng xử lý còn vướng thủ tục pháp lý do việc triển khai đồng xử lý chưa rõ có phải làm báo cáo đánh giá tác động môi trường cho dự án xử lý CTNH hay không.

  

Hình 2. Hệ thống lò nung xi măng và bộ phận nạp CTNH dạng lỏng

3.1.3. Chôn lấp CTNH

Công nghệ này hiện nay mới áp dụng ở Hà Nội và Bình Dương với dung tích của mỗi hầm chôn lấp từ 10.000 – 15.000 m3.

Bãi chôn lấp CTNH, hay thực chất là các hầm chôn lấp, được thiết kế theo quy định tại Tiêu chuẩn xây dựng TCXDVN 320:2004 về Bãi chôn lấp chất thải nguy hại – Tiêu chuẩn thiết kế. Việc vận hành bãi chôn lấp CTNH thực hiện trên cơ sở Hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 07 tháng 8 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

 Ưu điểm của các hầm chôn lấp CTNH có khả năng cô lập các CTNH chưa có khả năng xử lý bằng công nghệ khác, công suất lớn và giá thành xử lý khá rẻ so với nhiều phương pháp tiêu huỷ khác như đốt. Hơn nữa, CTNH tương lai có thể đào lên để xử lý nếu có công nghệ phù hợp. Các hầm chôn lấp đều có mái che kín trong quá trình vận hành nên biện pháp này có tính chất là đóng kén hơn là chôn lấp, không có khả năng phát sinh nước rò rỉ nhưng vẫn có hệ thống thu gom nước rò rỉ.

Tuy nhiên phương pháp này khá tốn diện tích. CTNH không được xử lý triệt để, mối nguy cơ rò rỉ vẫn còn nên cần giám sát lâu dài sau khi đóng hầm. Một lý do chôn lấp CTNH chưa được triển khai rộng do phải đảm bảo các điều kiện ngặt nghèo, hay có thể nói là bất khả thi về khoảng cách với các khu dân cư theo TCXDVN 320:2004. Một điều cần quan tâm là theo TCXDVN 320:2004 thì yêu cầu CTNH phải được hoá rắn, ổn định hoá (có thể hiểu nôm na là cần chuyển thành dạng rắn và ổn định) thì hiện nay bị hiểu thành phải được bê tông hoá trước khi cho vào chôn lấp. Nếu đã bê tông hoá như trình bày ở mục 3.1.4 đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng CTNH thì không cần thiết phải đưa vào hầm chôn lấp CTNH.

Do vậy, cần tiến hành rà soát và chỉnh sửa các tiêu chuẩn kỹ thuật nêu trên để phù hợp với điệu kiện thực tế hơn, đặc biệt là vấn đề khoảng cách ly.


Hình 3. Hầm chôn lấp CTNH

3.1.4. Hóa rắn (bê tông hóa)

Công nghệ này được sử dụng rất phổ biến, có mặt tại 17/36 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép với công suất trung bình từ 1 – 5 m3/h.

Đặc điểm của công nghệ là sử dụng CTNH kết hợp với xi măng, cát, sỏi, nước để đóng rắn các CTNH trơ, vô cơ như tro xỉ, tránh phát tán các thành phần nguy hại ra môi trường. Hiện nay đang phổ biến hai công nghệ là hoá rắn có nén ép cưỡng bức (sử dụng máy ép thuỷ lực để ép chặt cốt liệu bê tông như sản xuất gạch block) và hoá rắn thông thường (đổ bê tông tự nhiên). Cấu tạo của hệ thống hoá rắn thường rất đơn giản, gồm có máy trộn bê tông và máy ép khuôn hoặc các khuôn đúc.

Công nghệ hóa rắn có ưu điểm là thiết bị, công nghệ đơn giản, sẵn có (có thể tự lắp đặt, chế tạo), dễ vận hành, có hiệu quả kinh tế vì có thể tận dụng sản xuất vật liệu xây dựng (gạch block, tấm đan…). Tuy nhiên công nghệ hóa rắn chỉ xử lý an toàn đối với CTNH trơ, có thành phần vô cơ. Khả năng ổn định CTNH trong khối rắn thay đổi theo từng loại CTNH nên cần phải nghiên cứu kỹ cấp phối bê tông. Cần giám sát sản phẩm đầu ra để đảm bảo không vượt ngưỡng CTNH theo quy định tại QCVN 07: 2009/BTNMT.

  

Hình 4. Máy trộn bê tông và máy ép gạch block để hoá rắn CTNH

3.1.5. Tái chế dầu thải

Hiện tại, có 13/36 các cơ sở hành nghề xử lý do Tổng cục môi trường cấp phép đầu tư công nghệ tái chế dầu và một số cơ sở đang làm thủ tục cấp phép, chủ yếu rơi vào các loại như sau: chưng cất cracking dầu (chưng phân đoạn hay còn gọi chưng nhiều bậc và chưng đơn giản hay chưng một bậc); phân ly dầu nước bằng phương pháp cơ học (ly tâm) và bằng nhiệt.

Trong thực tế, phần lớn các cơ sở sử dụng công nghệ chưng đơn giản để thu hồi các cấu tử dầu (nguyên lý là sử dụng nhiệt để làm bay hơi và cắt mạch, sau đó ngưng tụ để thu hồi các cấu tử dầu, cặn rắn được tách ra và lấy ra ở đáy nồi chưng). Hiện nay có một số cơ sở đang đầu tư công nghệ chưng phân đoạn (chưng nhiều bậc) để tái chế dầu, đây là công nghệ hiện đại sử dụng để sản xuất các sản phẩm xăng dầu từ dầu thải. Về cơ bản chưng nhiều bậc giống với chưng đơn giản, khác ở chỗ dựa vào nhiệt độ sôi khác nhau của các hydro cacbon có trong dầu thải, kết hợp tuần hoàn (hồi lưu) dòng sản phẩm lỏng khi đó sẽ tách triệt để các cấu tử hydro cacbon có nhiệt độ sôi khác nhau và thu được các phân đoạn sản phẩm dầu có chất lượng cao như: xăng, dầu diezen...

Về cấu tạo của công nghệ chưng đơn giản gồm có lò gia nhiệt (đốt cấp nhiệt trực tiếp cho nồi chưng), nồi chưng (nồi chứa dầu thải), hệ thống ngưng tụ hơi dầu và hệ thống xử lý khí thải. Còn cấu tạo của công nghệ chưng nhiều bậc gồm hệ thống cấp nhiệt (lò hơi, sử dụng hơi nước quá nhiệt để cấp nhiệt cho tháp chưng cất), tháp chưng cất dạng đĩa lỗ có ỗng chảy truyền hoặc tháp đĩa chóp, hệ thống hồi lưu dòng sản phẩm lỏng và hệ thống xử lý khí thải lò hơi.

Nhìn chung, đối với công nghệ chưng đơn giản có ưu điểm trang thiết bị đơn giản (có thể tự chế tạo, lắp đặt), dễ vận hành, đầu tư thấp, nhưng việc vận hành và kiểm soát khá thủ công, đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ năng của người vận hành. Công nghệ chưng đơn giản phù hợp với các cơ sở nhỏ có lượng dầu thải đầu vào thấp, biến động.

Công nghệ chưng phân đoạn có hệ thống kiểm soát hiện đại, chất lượng sản phẩm đầu ra ổn định nhưng chi phí đầu tư lớn, vận hành phức tạp, đòi hỏi nguyên liệu đầu vào lớn và ổn định trong khi nguồn dầu thải ở Việt Nam thường nhỏ lẻ, biến động. Do vậy, cần cần nhắc khi đầu tư công nghệ này.

  

Hình 5. Hệ thống chưng dầu thải phân đoạn (trái) và chưng đơn giản (phải)

3.1.6. Xử lý bóng đèn thải

Hiện nay có 8/36 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép có hệ thống xử lý bóng đèn thải.

Trong bóng đèn có chứa nhiều loại chất thải khác nhau như bột huỳnh quang, hơi thủy ngân, thủy tinh, kim loại. Cấu tạo của hệ thống xử lý bóng đèn thải gồm có bộ phận nghiền bóng đèn trong môi trường kín,  kèm theo thiết bị hấp thụ hơi thuỷ ngân (bằng than hoạt tính hoặc lưu huỳnh), có thể kèm theo biện pháp tách thu hồi thuỷ tinh và bột huỳnh quang.

Công nghệ này có ưu điểm là chi phí đầu tư trang thiết bị hợp lý, dễ vận hành, sau khi phân tách riêng bột huỳnh quang, thủy tinh có thể dùng làm nguyên liệu trong sản xuất xi măng hoặc tái sử dụng thủy tinh sạch. Tuy nhiên, sau khi xử lý bóng đèn thải, quá trình hấp thụ hơi thuỷ ngân có trong bóng đèn thải sẽ tạo ra chất thải mới cần xử lý là muối thuỷ ngân.

Các thiết bị này được đầu tư chủ yếu để đáp ứng yêu cầu có đủ khả năng để xử lý nhiều loại mã CTNH của các chủ nguồn thải chứ chưa có hiệu quả kinh tế do thực tế loại CTNH này có số lượng không nhiều. Do vậy, giải pháp hoá rắn toàn bộ sản phẩm của quá trình nghiền là một giải pháp hiệu quả.


Hình 6. Thiết bị xử lý bóng đèn thải

3.1.7. Xử lý chất thải điện tử

Hiện nay chỉ có 4/36 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ chuyên xử lý chất thải điện tử này, công suất trung bình tư 0,5 – 5 tấn/ngày.

Các hệ thống này chủ yếu là thực hiện biện pháp phá dỡ, thủ công (như bàn phá dỡ đơn giản) hoặc cơ giới (máy nghiền), để phân tách từng thành phần cho các công đoạn xử lý tiếp theo như thu hồi phế liệu (kim loại, nhựa), đốt, hoá rắn.

Đối với các cơ sở có đầu vào nhỏ, thì việc phá dỡ thủ công là phù hợp, chủ yếu để đáp ứng đủ mã CTNH trong dịch vụ. Tuy nhiên, công đoạn phá dỡ thủ công có thể ảnh hưởng sức khỏe của công nhân do phải tiếp xúc trực tiếp với chất thải.

Công nghệ cơ giới hóa phù hợp với đầu vào lớn, đặc biệt là trong tương lai khi lượng chất thải điện tử phát sinh tăng đột biến. Hơn nữa, công nghệ hiện đại có thể tận thu được nhiều sản phẩm, đặc biệt là các kim loại quý.

  

Hình 7. Dây chuyền nghiền bản mạch điện tử (trái) và bàn phá dỡ đơn giản (phải)

3.1.8. Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải

Hiện nay, có 6/36 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ xử lý này, công suất trung bình 0,5 – 200 tấn/ngày.

Tái chế ắc quy chì thải là một trong những biện pháp tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, cùng với sự phát triển của nền kinh tế lượng ắc quy chì thải ngày một tăng và việc xử lý không an toàn đối với chất thải này đã và đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người và môi trường. Chính vì vậy, hiện nay trên thực tế đang sử dụng các công nghệ tái chế từ đơn giản (thô sơ) đến hiện đại.

Nguyên lý của công nghệ tái chế ắc quy chì thải là đầu tiên trung hòa dung dịch chất điện phân (dung dịch axit), sau đó phá dỡ phân loại riêng bản cực chì và vỏ (nhựa PP). Việc phá dỡ có thể là thủ công hoặc cơ giới hoá. Chì và nhựa được nấu tái chế tại chỗ hoặc chuyển cho các đơn vị tái chế.

Hiện nay có một số đơn vị đã đầu tư và đưa vào sử dụng công nghệ hiện đại để tái chế ắc quy, toàn bộ quy trình xử lý được cơ giới, tự động hóa với nguyên lý hoạt động như sau: bình ắc quy (có cả dung dịch axit) được đưa vào máy nghiền đồng thời có bổ sung dung dịch kiềm (sô đa) để trung hòa, sau đó hỗn hợp sau nghiền được đưa tới hệ thống phân tách bằng nước, nhựa có tỷ trọng bé nổi lên trên, còn chì có tỷ trọng lớn chìm xuống dưới và được vớt ra bởi gàu chuyên dụng. Hệ thống cơ giới hoá có công suất rất lớn do vậy nếu không có đủ nguyên liệu đầu vào thì sẽ không có hiệu quả kinh tế vì đầu tư rất tốn kém.

Nhiều cơ sở áp dụng hệ thống thủ công hoặc bán thủ công dựa trên bàn phá dỡ bằng sức lao động, công suất tuy thấp nhưng giảm chi phí đầu tư và đáp ứng được lượng đầu vào thấp. Tuy nhiên phải lưu ý vấn đề bảo hộ lao động để tránh rủi ro phơi nhiễm axit và các hơi độc.


Hình 8. Dây chuyền phá dỡ ắc quy chì thải cơ giới hoá

3.2. Các công nghệ khác

Ngoài các công nghệ trên, hiện nay các cơ sở xử lý CTNH tại Việt Nam còn sử dụng các loại công nghệ khác đối với từng loại CTNH đặc thù khác như công nghệ súc rửa và tái chế thùng phuy, công nghệ tái chế dung môi thải, công nghệ rửa sạch phế liệu dính dầu, công nghệ kết tủa thu hồi kim loại...

3.3. Hiệu quả xử lý và môi trường của các công nghệ đã được cấp phép

Theo báo cáo quản lý CTNH định kỳ, báo cáo giám sát môi trường của các cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép cũng như kết quả thanh tra, kiểm tra những năm vừa qua, hầu hết các công nghệ xử lý CTNH đã được cấp phép đều đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành, đảm bảo hiệu quả xử lý cam kết khi đăng ký hành nghề, phát thải đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường [2, 3].

Tuy nhiên đây là kết quả do các cơ sở tự giám sát hoặc kết quả giám sát khi có các đoàn thanh tra kiểm tra nên cũng chưa phản ánh đầy đủ được mức độ tuân thủ. Điều này phụ thuộc vào ý thức tự giác chấp hành của các cơ sở. Nhưng ít nhất, điều này cũng khẳng định là các công nghệ đã được cấp phép hiện tại là đảm bảo được hiệu quả xử lý cũng như môi trường nếu được vận hành đúng theo thiết kế và có sự giám sát chặt chẽ.

3.4. Xu thế áp dụng một số công nghệ mới

3.4.1. Lò đốt quay: công nghệ này tương tư như lò đốt tĩnh, chỉ khác là buồng đốt sơ cấp có dạng trụ quay (như lò xi măng). Công nghệ này có ưu điểm có thể đốt các loại chất thải khó cháy như bùn thải do chất thải được khuấy trộn tốt trong lò quay. Nhưng nhược điểm của công nghệ này là chi phí đầu tư lớn, đòi hỏi tiêu chuẩn cơ khí cao. Ngoài ra, lò quay phát sinh nhiều bụi nên cần phải đầu tư thêm hệ thống lọc bụi túi vải hoặc lọc bụi tĩnh điện. Hiện nay Việt Nam đang có một số cơ sở nghiên cứu lắp đặt lò đốt quay nhưng đều chưa đến giai đoạn được cấp phép.

3.4.2. Lò plasma: Công nghệ lò đốt plasma là công nghệ rất hiện đại, sử dụng nhiệt độ rất cao để phá huỷ hoàn toàn các chất hữu cơ, chuyển hoá thành các khí tổng hợp và tạo ra xỉ là thuỷ tinh với khối lượng xỉ tạo ra là ít nhất so với các công nghệ đốt khác [5]. Hiện nay, tại Việt Nam có một số cơ sở đang tiến hành lập dự án lắp đặt lò đốt plasma. Tuy nhiên, cần nghiên cứu kỹ về hiệu quả kinh tế vì đầu tư rất lớn.

3.4.3. Lò đốt tầng sôi: Đây là công nghệ đốt có hiệu suất tiết kiệm năng lượng cao hoặc tái sử dụng năng lượng do chất thải tạo thành. Tuy nhiên, lò đốt tầng sôi có tốc độ mài mòn bề mặt đốt và truyền nhiệt rất cao, do đó tính kinh tế của nó kém hơn so với lò đốt thông thưòng. 

3.4.4. Bể đóng kén

Bể được thiết kế vách và đáy bằng bê tông chống thấm, kết cấu cốt thép bền vững đặt trên nền đất được gia cố để đảm bảo tránh sụt lún gây nứt gãy, rò rỉ, thẩm thấu theo đúng quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về xây dựng. Sử dụng bể đóng kén có thể xử lý được nhiều loại chất thải khác nhau, dễ sử dụng, chi phí đầu tư thấp và khắc phục được yêu cầu về khoảng cách ly như đối với bãi chôn lấp.

4. Kết luận

Nền công nghệ xử lý CTNH của Việt Nam trong những năm vừa qua, đặc biệt sau khi có sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường 2005 và các văn bản dưới Luật như Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại và Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục chất thải nguy hại đã có những bước phát triển đáng kể.

Các công nghệ hiện có của Việt Nam còn chưa thực sự hiện đại, sử dụng các công nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ, nhưng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý CTNH của Việt Nam. Tuy nhiên để thực sự đảm bảo công tác quản lý CTNH đạt yêu cầu, cần phát triển công nghệ xử lý CTNH tại Việt Nam cả về chất lượng và số lượng. Ngoài ra, cần nghiên cứu chuyên biệt hoá các công nghệ để xử lý các loại CTNH đặc thù. Bên cạnh đó cần phải tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo các công nghệ đã được cấp phép hoạt động tuân thủ đúng quy định, đạt các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường.

Nghiên cứu và phát triển công nghệ xử lý CTNH vẫn là vấn đề đau đầu của các nhà quản lý và nhà khoa học về môi trường. Đối với các loại CTNH đặc thù nên xây dựng quy trình xử lý chuyên biệt để đảm bảo an toàn cho môi trường xung quanh. Nhưng để lựa chọn công nghệ xử lý chất thải phù hợp điều kiện của Việt Nam không phải dễ, do đó cần thiết phải xây dựng và ban hành các bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật... làm cơ sở khoa học cho công nghệ xử lý chất thải.

Ngoài ra, để công tác bảo vệ môi trường thực hiện hiệu quả, Nhà nước không chỉ quan tâm đến vấn đề quản lý, thanh tra, xử phạt mà cần thiết phải chú trọng đến vấn đề quản lý thị trường và quy hoạch công nghệ xử lý CTNH. Có như vậy mới có thể tránh cho doanh nghiệp những rủi ro không đáng có, đồng thời nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường của các đơn vị sản xuất.

5. Tài liệu tham khảo

[1] Cục Bảo vệ môi trường, Báo cáo hiện trạng môi trường, 2004.

[2] Các báo cáo về công tác quản lý chất thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế của Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 2009.

[3] Các báo cáo quản lý chất thải nguy hại, báo cáo giám sát môi trường định kỳ của các chủ xử lý, tiêu huỷ chất thải nguy hại, 2009.

[4] Các bộ hồ sơ đăng ký hành nghề xử lý, tiêu hủy CTNH lưu tại Tổng cục Môi trường.

[5] Công ty thương mại dịch vụ xây dựng Ngân Thành, Báo cáo dự án đầu tư, 2009.

[6] Bộ Tài nguyên và Môi trường, Danh mục chất thải nguy hại, ban hành kèm theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 26 tháng 12 năm 2006.

[7] Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Ngưỡng chất thải nguy hại, QCVN 07:2009/BTNMT.

Nguồn: vea.gov.vn

Thông tư 01/2012/TT-BTNMT ngày 16 tháng 3 năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện Đề án bảo vệ môi trường chi tiết; lập và đăng ký Đề án bảo vệ môi trường đơn giản.
Môi trường là gì? "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên"
Emissions from vehicles in most countries, particularly developing countries, are not well understood, and the ability to make accurate future emissions estimates does not presently exist. This has limited the ability of decision-makers to design effective control strategies.